Dâm dương hoắc

Dâm dương hoắc được suy tôn là vua của các loại thuốc “quyến rũ”, dâm dương hoắc có tác dụng đặc biệt trong việc tăng cường dục năng, kích thích tình dục rất cao cho các quý ông. Tại Việt Nam, cây này xuất hiện tại các vùng núi cao biên giới giáp ranh với Trung Quốc, đặc biệt là ở Hòa Bình, Sapa.
>> Ba kích
  
Dâm dương hoắc, tên thường gọi là Epimedium (Tên Latin là Herba Epimedii;  là cây thân thảo, cao khoảng 0.5 - 0.8m có hoa, cuống dài. Cây này có nhiều loài khác nhau như Dâm dương hoắc lá to (Epimedium macranthum Morr et Decne), Dâm dương hoắc lá hình tim (Epimedium brevicornu Maxim), Dâm dương hoắc tá mác (Epimedium sagittum(Sieb et Zucc) Maxim), tất cả các loại trên đều được sử dụng trong y học cổ truyền với tác dụng bổ thận tráng dương giành cho nam giới. Tương truyền cây này trước đây được người dân cho dê đực ăn, thì sau đó dê đực có khả năng giao phối với dê cái rất nhiều lần trong ngày, từ đó cây được đặt tên là Dâm dương hoắc.

dâm dương hoắc vị thuốc sức khỏe
 
Từ lâu người dân Trung Quốc đã sử dụng Dâm dương hoắc để làm giảm căng thẳng và mệt mỏi cho nam giới, họ thường dùng 100-200g nước sắc (10 lần liều lâm sàng hiện đại thông thường) của Dâm dương hoắc với rượu vang đỏ và mực để giúp cơ thể đỡ mệt mỏi và thiếu sức. Ngoài ra, dịch chiết Dâm dương hoắc còn có tác dụng kích thích chuyện ấy của bạn.
 
Thành phần hóa học: Theo đông y thì thành phần chủ yếu của dâm dương hoắc là Incaritine, có tác dụng tăng kích thích tố nam, tăng số lượng và chất lượng tinh dịch. Dâm dương hoắc có vị cay đắng, giúp bổ can thận, tráng dương, ích tinh, kích thích sinh dục, chuyên trị liệt dương.
 
Công dụng dược lý của Dâm dương hoắc:
- Thuốc có tác dụng như kích tố nam, cho uống cao Dâm dương hoắc có kích thích xuất tinh (tác dụng của lá và rễ mạnh, còn quả yếu hơn, thân cây kém).
- Có tác dụng hạ áp, tăng lưu lượng máu của động mạch vành, dãn mạch ngoại vi, tăng lưu lượng máu đầu chi, cải thiện vi tuần hoàn, làm dãn mạch máu não, tăng lưu lượng máu ở não.
- Có tác dụng hạ lipid huyết và đường huyết.
- Tác dụng kháng virus: nước sắc của thuốc có tác dụng ức chế mạnh virus bại liệt các loại I, II, III và sabin I ( theo bài: Tác dụng của Trung dược đối với virus đường ruột và virus bại liệt đăng trên Tạp chí Trung hoa y học, 50(8):521-524, 1964).
- Dùng lượng ít thuốc có tác dụng lợi tiểu, lượng nhiều chống lợi tiểu.
- Thuốc có tác dụng tăng cường chức năng miễn dịch của cơ thể và tác dụng song phương điều tiết.
- Có tác dụng giảm ho hóa đờm, bình suyễn và an thần rõ rệt.
- Có tác dụng kháng khuẩn chống viêm: tác dụng ức chế đối với tụ cầu khuẩn trắng, tụ cầu vàng, phế cầu khuẩn, dung dịch 1%, có tác dụng ức chế trực khuẩn lao.