Cây bá bệnh

Theo nghiên cứu về cây bá bệnh cho biết: các bộ phận của cây được sử dụng để chống bệnh sốt rét, kích thích tình dục, chống bệnh tiểu đường, kháng khuẩn và nó còn có tác dụng để hạ sốt. Mặc dù có rất nhiều lĩnh vực y tế khác quan tâm đến công dụng của cây bá bệnh, nhưng hầu hết ở Đông Nam Á thường sử dụng để điều trị bệnh sinh dục.

>> Xuất tinh sớm

>> Yếu sinh lý

Trong năm 2001 các nhà nghiên cứu khoa học Malaysia đã tổ chức một cuộc nghiên cứu trên chuột và họ đã đưa ra kết luận rằng: cây bá bệnh là biểu tượng của cái tôi và sức mạnh của đàn ông Malaysia, bởi vì nó làm tăng virility nam giới và tăng khả năng tình dục. Trong một nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nó làm tăng số lượng tinh trùng, các nhà nghiên cứu cũng báo cáo rằng plasma testosterone trong việc sử dụng cây bá bệnh đã tăng lên lên đáng kể khi so sanh với các cá thể bị bị vô sinh hoặc tinh trùng kém.

Mô tả: Bá bệnh là loại cây trung bình, cao khoảng 15m, thường mọc dưới tán lá của những cây lớn. Có lông ở nhiều bộ phận. Lá cây dạng kép không cuống gồm từ 13 – 42 lá nhỏ sánh đôi đối nhau. Mặt lá trên màu xanh. Mặt dưới màu trắng.

cây bá bệnh

Tác dụng:
Cây Bá bệnh - Eurycoma longifolia - là loài đơn tính khác gốc (dioecious) nên mỗi cây chỉ trổ hoa đực hoặc hoa cái. Hoa màu đỏ nâu mọc thành chùm, nở vào tháng 3-4. Mỗi hoa có 5-6 cánh rất nhỏ. Cây kết quả vào tháng 5-6. Quả non màu xanh; khi chín đổi sang màu đỏ sẫm. Quả hình trứng hơi dẹt, có rãnh ở giữa dài từ 1 – 2 cm, ngang 0,5 – 1 cm, chứa 1 hạt, trên mặt hạt có nhiều lông ngắn. Theo kinh nghiệm dân gian, người ta dùng rễ cây bá bệnh, cây mật nhân (có vị đắng, tính mát) băm nhỏ đem tẩm rượu, sao vàng để trị bệnh.

 Mật nhân được dùng chữa nhiều thứ bệnh như: khí hư huyết kém (biểu hiện: người mỏi mệt, lười hoạt động, thiếu máu), ăn uống không tiêu, no hơi, đầy bụng, trong ngực có cục tích (tức ngực, nghẹn, khó thở), gân xương yếu mỏi, chân tay tê nhức, nôn mửa, tả lỵ, tứ thời cảm mạo (cảm ho thể phong hàn hay phong nhiệt cả 4 mùa trong năm), say rượu, đau bao tử, ợ hơi, ợ chua lâu năm, cao huyết áp, tẩy giun và nhiều bệnh khác. Vỏ thân mật nhân dùng làm thuốc bổ, chữa trị ăn uống không tiêu, phối hợp với rễ chữa đau lưng, nhức mỏi, đau bụng kinh của phụ nữ. Quả mật nhân thì dùng để chữa lỵ, tiêu chảy. Lá thì dùng nấu nước tắm trị ghẻ, lở ngứa.

Tham khảo thêm: Ba kích

Cách sử dụng mật nhân chữa bệnh như sau:

Nếu rễ hoặc vỏ thân thì phơi khô tẩm rượu sao vàng sắc uống, hoặc tán bột làm viên uống ngày 8-16g chia 3 lần sau khi ăn. Nếu ngâm rượu thì liều lượng như sau: 20g rễ mật nhân, 10 trái chuối khô (chuối sứ) nướng vàng, ngâm với 1 lít rượu loại ngon, ngâm khoảng 7 ngày là lấy ra dùng được, ngày dùng 3 lần, mỗi lần 1 ly nhỏ (độ 30 ml).  
Lưu ý: phụ nữ đang mang thai thì không được dùng.

tác dụng của cây bá bệnh

Nơi sống:
Là loại cây mọc hoang trong những cánh rừng thưa vùng Đông Nam Á. Tại Việt Nam bá bệnh có mặt trong vườn quốc gia Bái Tử Long, khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn- Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh , một số rừng ở Tây nguyên. Bộ phận dùng là rễ, vỏ thân và quả được dùng để làm thuốc.

Thành phần hóa học, tác dụng
Vỏ rễ cây Bá bệnh có vị rất đắng nên sử dụng làm thuốc tẩy giun sán, trị sốt rét, kiết lỵ, ngộ độc, đầy bụng, giải say rượu, giải độc và điều hòa huyết áp. Khi dùng ngoài da, Bá bệnh là thuốc trị ghẻ lở. Ngoài ra trong vỏ và rễ cây bá bệnh có thành phần chất quasinoide, tritecpenoit, alcaloiit giúp tăng năng lượng hoạt động và sức bền cơ thể. Khả năng tăng cường sinh lý, tăng cường sức khỏe tình dục của bá bệnh được ứng dụng trong một số dược thảo.